Thursday, June 30, 2016

TRUNG ÐOÀN BÌNH THUẬN TẠI MẶT TRẬN PHƯỚC TUY VÀO NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 4-1975 CAO HOÀI SƠN Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 4, Tiểu Ðoàn 229/ÐP ố TK Bình Thuận

            Qua rồi 35 năm ngày tàn cuộc chiến. Nay hồi tưởng lại những ngày cuối cùng của quân dân Bình Thuận, cũng cảm thấy rất tự hào cho những người dân-lính miền biển mặn. Nhưng cũng không làm sao dấu đượn nổi xót xa bồi hồi trong tâm khảm khi chạnh nghĩ tới những bạn bè đồng độiợ đã hy sinh trong giờ thứ 25, giữa lúc cả nước từ trên xuống duới (trừ lính) gần như tìm đường lánh họa cộng sản.

            Làm sao có thể quên được hôm đó, trọn một đêm bôn tập vượt sông Cà Ty và những con suối nhỏ trong khu vực ấp Phú Khánh phía bên kia QL1, sáng sớm ngày 19 tháng 4 năm 1975, Tiểu Ðoàn 229 ÐP mới tới được Bình Tú. Tại đây, qua tầm nhìn mắt trần, chúng tôi thấy lố nhố trong hàng rào kẻm gai của phi trường Phan Thiết, có nhiều chiếc T54 của cộng sản Bắc Việt, đang chỉa họng súng đen ngòm vào đoàn quân chỉ cách nhau không hơn 1km.

            Thật sự đến nay không riêng tôi, mà hầu hết những người có mặt lúc đó vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng về lý do “ tại sao địch không tác xạ vào quân ta khi chúng phát hiện từ các ngã đường tập trung về bến tàu Kim Hải ? “.Tuy nhiên có hai lý do khiến chúng phải chùng bước là : Hải pháo của ta trên các chiến hạm, đang đậu đầy vùng biển Kim Hải và sát phi trường đang có sự hiện diện của hơn 6.000 quân đủ binh chủng chờ tàu Hải Quân đến di tản về Nam. Trong đoàn quân này hầu hết ai cũng được trang bị mỗi người một súng M72 chống chiến xa. Nhưng trên hết chúng sẽ không bao giờ quên được bài học về sự thiệt hại trong trận phục kích “ bắn cháy chiến xa “ của Tiểu Ðoàn 212 ÐP tại Dốc Bà Cháy, xã Lương Sơn vào đêm 16/4/1975.

            Ðứng trên triền đồi của bãi biển Bình Tú, trước mặt phía dưới là những hố lở sâu thẳm trên 100m đất đỏ lòm, dựng đứng như vách thành. Toàn vùng duy nhất chỉ có một con đường độc đạo dẫn xuống bến tàu Kim Hải. Ðây là một vị trí chiến lược phòng thủ đối với quân ta, chống lại chiến xa của VC từ phi trường tràn xuống. Do đó TÐ229 ÐP được lệnh án ngữ tại đây và sẳn sàng những khẩu M72 để đón giặc.

            Nhìn ra ngoài khơi lòng cảm thấy lo âu vì sự vắng bóng của những con tàu HQ thân thuộc kể cả ghe đánh cá địa phương, mà ngày thường lúc nào cũng khuyấ động sự im lặng của miền biển mặn. Chẳng lẽ cuộc đời chinh chiến của đoàn quân anh dũng Bình Thuận lại bị chôn vùi ở địa danh này ?. Nắng đã bắt đầu le lói trên bầu trời trong xanh không gợn một áng mây. Từng đợt sóng nhỏ ập nhẹ vào bãi biển, báo hiệu một ngày đẹp trời, sóng yên biển lặng.. cho dù lòng ai lúc đó cũng đang cuồn cuộn những cơn sóng dữ đang chực chờ

            Phía dưới, dọc theo bãi biển chạy tới Ba Hòn có nhiều đơn vị tham chiến tại Mặt Trận Phan Rang dùng đường bộ về đây và đang tiếp tục di chuyển tới Hàm Tân (Bình Tuy). Nhưng cuối cùng họ phải quay trở lại Kim Hải vì không vượt qua khỏi các nút chận của VC tại Mũi Kê Gà.

            Tiểu đoàn 202 ÐP của Ðại Uý Huỳnh Văn Hoàng đã đến đây từ khuya, vừa dọn bãi và giữ an ninh cho Quân y Viện Ðoàn mạnh Hoạch di chuyển các thương bệnh binh ra vị trí chờ tàu Hải Quân đến đón. Ðến trưa thì Tiểu đoàn 275 ÐP của Thiếu Tá Nguyễn Tư tại Kim Ngọc, Lại An, kể cả Tiểu đoàn 274 ÐP của Thiếu Tá Trịnh Văn Bình là đơn vị đóng xa nhật tận Bầu Gia Phú Hội, Mường Mán.. cũng đến được bến tàu. Ngoài ra còn có Ðại Ðội 954 ÐP của Ðại uý Mai Xuân Cúc và nhiều đại đội của các TÐ249, 230 ÐP cũng về được điểm hẹn. Nói chung thì hầu hết các đơn vị tại Nam Bình Thuận gần như có mặt đủ tại đây, trừ lực lượng cơ hữu của Chi khu Hàm Thuận, trong số này có Ðại đội 288 của Ðại uý Phạm Văn Sáu theo Thiếu tá Dụng Văn Ðối di tản từ chiều 18-4, bằng đường bộ tới Hàm Tân và bị TK Bình Tuy giải giới tại đây, nên coi như tan hàng, mạnh ai lo mạng nấy kể cả đại bàng.

            Riêng chi khu Hải Long của Thiếu tá Hàng Phong Cao rời Mũi Né vào trưa ngày 18/4/1975 bằng ghe chở nước mắm và chiếc thương thuyền Hương Giang từ Nha Trang vào bị kẹt bỏ lại. Các đơn vị tại bắc Bình Thuận của 4 chi khu Tuy Phong, Hải Ninh, Phan Lý Chàm Hoà Ða và Liên Ðoàn 925 ÐP tại Lương Sơn.. phần lớn cũng đều di tản được vào Vũng Tàu bằng tàu Hải Quân và ghe đánh cá tại các bến Cà Ná, Long Hương, Phan Rí Cửa, Hòn Rơm... Còn Chi khu Thiện Giáo coi như tan hàng trước ngày 16-4-1975.

            Tại bãi biển Kim Hải tình hình mỗi lúc thêm căng thẳng. Trời về trưa càng oi bức ngột ngạt, gió biển vẫn không đủ xoa dịu nổi cái nóng của hơi cát bốc lên từ bốn hướng Theo đúng kế hoạch lui quân của Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải, đầu tiên là sự xuất hiện của Duyên Ðoàn 28 Phan Thiết, từ ngoài khơi vào bốc các thương bệnh binh của QYV Ðoàn Mạnh Hoạch. Kế tiếp là đoàn tàu Ferro Ciment và tàu há mồm, ào ạt ủi bãi trong lúc nước thủy triều đang lên cao, lần lượt bốc hết các đơn vị tại chổ. Trong lúc đó nhiều chiến hạm kể cả soái hạm HQ04 Trần Khánh Dư cũng tiến sát vào sát bờ, sẳn sàng nhả đạn yểm trợ cho cánh quân bên trong. đang dồn dập ủi bải đón người. Ðại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 229 ÐP là đơn vị cuối cùng được lệnh nằm lại tại Hố Lở, để đoạn hậu. Sau đó sẽ được ba chiếc hải thuyền đón ra biển cuối cùng. Cuộc di tản chiến thuãt của Tiểu Khu Bình Thuận và các đơn vị từ Phan Rang vào, coi như kết thúc vào lúc 1 giờ trưa ngày 19/4/1975 với sự thành công tuyệt diệu.

            Trong giây phút sắp giả từ Phan Thiết yêu thương, bỏ lại sau lưng vợ con cha mẹ bạn bè, không biết đến bao giờ mới gặp lại, trái tim của nguời lính trận bổng dưng khựng điếng như vô cảm. Trên soái hạm Trần Khánh Dư HQ4, hiện đang có mặt Phó Ðề đốc Hoàng Cơ Minh và Ðại tá Ngô Tấn Nghĩa. Hơn 6000 quân được vớt trong cuộc di tản.

            Một ngày một đêm lặn lội trong máu lệ đạn bom, cái chết trước mắt đã làm cho ai nấy quên hết sự đói lạnh. Giờ đây được ngồi trên tàu xa vùng lửa khói, cái đói như từ trên trời xập xuống, tôi ăn vội gói mì tôm sống chai ngắt nhạt nhẻo và uống ngụm nước lạnh múc ở suối còn sót trong bidong, mới thấy lòng ấm lại chút chút. Tình cờ đưa mắt nhìn lên boang tàu sát bên, thấy HQ Trung Uý Nguyễn Văn Tạo, cậu họ của tôi đang phục vụ trên Soái hạm HQ4. Tôi mừng quá đưa tay vẫy và hỏi lớn có gì ăn không ?. Chừng 10 phút sau một gói giấy được quăng qua tàu tôi, mở ra thật ngỡ ngàng với 4 con cá khô nướng và một vắt cơm. Thì ra thân phận của người lính VNCH là thế đó, dù họ có là sĩ quan hay binh sĩ, là người lính kiêu hùng Dù, TQLC, LLÐB, BÐQ hay Nghĩa Quân, Xây Dựng Nông Thôn.. là bộ binh, không quân và lính biển.. thì nổi đòi cam khổ hiểm nguy.. tất cả đều giống nhau không ai ngoại lệ..

            Nằm gối đầu trên chiếc ba lô mơ mơ màng màng những buồn vui đời lính, chợt tiếng còi tàu từ soái hạm HQ4 vang lên báo động “ phi cơ địch sắp xuất hiện “ và ra lệnh mọi người phải vào vị trí sẳn sàng chiến đấu “.Tôi bật dậy như cái máy, thấy các anh HQ đang khoắc vào mình chiếc áo phao cấp cứu màu cam, tiến đến các ụ súng cao xạ phòng không trên tàu. Trong lúc đó hệ thống Rada trên tháp chỉ huy không ngớt chuyển động để thông báo tin tức. Các tàu chở lính cũng được lệnh tách rơiợ soái hạm chạy về hướng Vũng Tàu. Cuối cùng giờ chót phi cơ địch không xuất hiện nhưng soái hạm HQ04 vẫn còn ở lại hải phận Phan Thiết để bảo vệ cho đoàn tàu xuôi Nam.

            Gần tối đoàn tàu qua mũi Kê Gà với tháp hải đăng chiếu sáng cả một vùng biển. Mệt mõi và say sóng, chúng tôi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, tới lúc vầng thái dương le lói chiếu vào mặt mới tỉnh giấc. Thì ra tàu đã vào Bến Ðình nhưng chưa cặp bờ vì còn đợi lệnh của quân cảnh quân trấn Vũng Tàu. Sau đó Thiếu tá Nguyễn Hữu Tiến, Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ229 ÐP được lệnh lên bờ để gặp Quân Cảnh. Hai bên thảo luận về việc giao nạp vũ khí, quân dụng cho quân trấn, kể cả địa bàn, bản đồ.. trước khi lên quân xa về khu vực tạm trú dành cho Bình Thuận. Tóm lại chỉ có Thiếu Tá Tiến được giữ lại một khẩu Colt 45 và một máy truyền tin PRC25 dùng để liên lạc nhận lệnh từ Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa cũng đang có mặt tại Vũng Tàu.

            Không biết tình trạng các tiểu đoán khác ra sao ? Hởi ôi đánh trăm trận không chết bởi đạn pháo mìn chông của VC, nay đoàn lính trận của Bình Thuận lại bị chết nhục bởi đám quân cảnh trong giờ thứ 25, qua những lệnh lạc từ trên trời rớt xuống. Nhưng kỷ luật quân đội trước sau vẫn là kỷ luật, nên chúng tôi thi hành theo lệnh của quân đội !. Ðây cũng là lý do làm cho một số anh em khi lên bờ, không chịu nổi cảnh ứa gan, nên bỏ ngủ về Sài Gòn vì bị phe ta “ tước đoạt hết “ kể cả nhân phẩm, khiến lính không ra lính, quan chẳng còn gì là quan trước mặt lính, nên họ bỏ đi sớm hơn để khỏi bị đại bàng chúa bắt đầu hàng kẻ thù vào trưa ngày 30-4-1975.

            Nhưng Ðặc Khu Vũng Tàu trái lại đã dành hết sự nồng nhiệt để đón tiếp đoàn quân di tản từ Bình Thuận vào. Dọc theo Bải Trước gần cầu tàu, các quầy thức ăn cung cấp tự do cho anh em. Xen lẫn trong số này còn có quầy của các Soeur bên Thiên Chúa Giáo và quý Ni-sư Linh Sơn Tự. Các món chay vừa ngon vừa gợi nhớ, làm cho các quân nhân Phật Tử cảm động muốn khóc vì thương tủi không biết mẹ mình hiện đang kẹt tại quê nhà ra sao. Nói chung là Chính Quyền và Ðồng Bào Vũng Tàu, ai cũng hân hoan nhiệt liệt với những người lính trở về từ giới tuyến. Mối ân tình sâu đậm ấy là những hình ảnh nồng nàn diểm tuyệt, luôn theo tôi mấy chục năm không bao giờ phai lạt trong cuộc đời còn lại.

            Ðoàn quân xa chở anh em ghé lại BCH Ðặc Khu Vũng Tàu. Tại đây lần nữa mọi người lại được các cô “ nữ Quân Nhân “ trong bộ đồng phục xinh xắn , trao cho 5 goí mì ăn liền. Của ít, lòng nhiều, thể hiện tình Huynh Ðệ Chi Binh thắm thiết.

            Trưa 20/4/1975 gần như các đơn vị di tản bằng tàu HQ từ Phan Thiết vào, ngoại trừ một số nhỏ bất mản quân cảnh bỏ ngủ. Tất cả đã có mặt tại Trung Tâm Huấm Luyện Quốc Gia Vạn kiếp tại Bà Rịa tỉnh Phước Tuy. Tôi ước lượng có khoảng 10.000 người, đủ các quân binh chủng chủng nhưng đông nhất là Tiểu Khu Bình Thuận trên 3000 quân. Trong khi đó, từng đoàn xe GMC chở đầy binh sĩ của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, từ các quận trong tỉnh, chạy ngược về hướng Long Thành trên Quốc Lộ 15.

            Cũng tại Trung Tâm Vạn Kiếp, tôi thấy có mặt Ðại Tá Lại Văn Khuy Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 925 ÐP (bắc Bình Thuận) và Thiếu Tá Nguyễn Quốc Quân Tiểu Ðoàn trưởng Tiểu Ðoàn 212 ÐP , sau khi rút quân từ Lương Sơn, Sông Lũy ra Bàu Trắng trong mật khu Lê Hồng Phong chờ tàu HQ tới đón. Sáng 19/4/1975 Ðại Uý Vĩnh, Ðại Ðội Trưởng ÐÐ1/TÐ212 ÐP là người chỉ huy trực tiếp trận phục kích bắn cháy chiến xa CSBV tại dốc Bà Cháy đêm 16/3/1975, cùng với một vài anh em dùng ghe nhỏ ra biển đón được 3 ghe giả cào lớn vào bờ rước BCH/Liên Ðoàn 925 và các đại đội còn lại của TÐ212 ÐP vào Vũng Tàu an toàn. Sau đó Ðại Tá Khuy và Thiếu Tá Quân lột bỏ quân phục, bỏ lại đồng đội của mình đã sống chết bao nhiêu năm tại Bình Thuận, để về Sài Gòn ngay buổi sáng hôm đó.

            Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tiến được Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa chỉ định thay thế ông, chăm sóc anh em Bình Thuận trong thời gian Ðại Tá về Sài Gòn xin lương bổng và trang bị cho đơn vị. Ngày 21/4/1975 tất cả quân nhân thuộc TK.Bình Thuận lại được chở ngược về Ðặc Khu Vũng Tàu, tập trung trong căn cứ của Thủy Quân Lục Chiến tại Bải Sau, để thành lập Trung Ðoàn Bình Thuận, tái trang bị quân trang dụng và đầy đủ các loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng. Gạo được tiếp tế đầy đủ nên các đơn vị đang dự định đem bán bớt để mua thịt cá cho anh em, thì ngày 22/4/1975 Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa từ Sài Gòn dùng trực thăng tới Vũng Tàu, mang theo số tiền đầu tiên xin được của trung ương là 5 triệu đồng, để phát tiền ăn cho binh sĩ, mỗi người nhận 200 đồng. Chính Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tiến (đã qua đời tại Úc sau khi bị tù nhiều năm tại miền Bắc) là người trực tiếp phát tiền cho các đơn vị, qua sự phụ giúp của Trung Uý Cao Hoài Sơn).

            Ðợt hai, chúng tôi lại nhận thêm 2 triệu vào ngày 25/4/1975 để phân phối cho các đơn vị. Quân số của Bình Thuận lúc đó còn chừng 3000 người gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các đại đội và tiểu đoàn tác chiến. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Ty ANQÐ, Chi Khu, Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 925 Ðịa Phương Bắc Bình Thuận.. coi như đã tan hàng ngày 19-4-1975 tại Phan Thiết, ngoại trừ người lính già Ngô Tấn Nghĩa, đã theo anh em từ Lầu Ông Hoàng, Bải Thương Chánh, trên boang tàu HQ, các ngã đường từ Vũng Tàu tới Bà Rịa.. và cuối cùng bị kẹt lại Sài Gòn khi miền Nam bị mất, dù ông cũng có đầy đủ phương tiện kể cả trực thăng. để đưa vợ con ra chiến hạm đi Mỹ.

            Cũng trong ngày 25/4/1975 Ðặc Khu Vũng Tàu phát cho BCH Trung Ðoàn Bình Thuận một xe Dodge, các tiểu đoàn máy PRC25, pin và bản đồ hành quân của tỉnh Phước Tuy. Lúc này Ðặc khu Vũng Tàu bắt đầu hổn loạn vì sự pháo kích bừa bãi của VC nhắm vào dân chúng trong thị xã, phi trường. Từng đoàn người tại các quận lại chạy về đây lánh nạn, tập trung tại sân vận động hơn 10.000 người.

            Ðạn bom lửa khói đã bắt đầu tiến vào đường phố, máu người dân vô tội lại chảy vì pháo kích, cướp bóc trong những giờ phút hổn loạn. Tình hình trở nên nguy ngập khi Sư Ðoàn 18 BB được lệnh rút về bảo vệ Biên Hòa. Các Tiểu Ðoàn 274 ÐP của Thiếu Tá Bình và TÐ275 của Thiếu Tá Tư thuộc Trung Ðoàn Bình Thuận, được lệnh bung ra Long Hải làm tiền đồn, bảo vệ sườn phía đông bác thị xã. Các đại đội biệt lập và Tiểu đoàn 229 ÐP trấn giữ Căn Cứ TQLC làm phòng tuyến chính, tiếp ứng ngăn chận và bảo vệ Vũng Tàu.

            Ngày 29/4/1975 tướng Nguyễn Văn Toàn và một số tuỳ viên thân cận từ Biên Hòa bay trực thăng vào căn cứ TQLC lúc đó do Trung Ðoàn Bình Thuận trấn giữ, trước khi ông di tản chiến thuật ra tàu Mỹ. Buổi trưa cùng ngày, các tiểu đoàn tiền đồn trước áp lực địch quá nặng, cũng bỏ Long Hải kéo về căn cứ.

            Trên QL 15 dẫn vào Vũng Tàu, cầu Cỏ Mây do TQLC trấn giữ, bị VC tấn công dữ dội nhưng gặp phải sự chống trả mảnh liệt gây nhiều thương vong cho giặc. Tại căn cứ TQLC, Trung Ðoàn Bình Thuận bị CS Bắc Việt tấn công vào lúc 4 giờ chiều bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung. Ðon vị trấn giữ căn cứ là TÐ229 ÐP/Bình Thuận đã tử chiến với giặc trong giờ thứ 25 bằng đại liên, súng cối và M72, nhát là hướng tây sát với động cát và rừng dương liểu. Xác của giặc nằm ngổn ngang tứ hướng vì đạn và bải mìn phòng thủ. Nhưng vì địch quá đông nên Trung Ðoàn Bình Thuận được lệnh bỏ căn cứ rút về Bải Trước.

            Các đơn vị được lênh bỏ lại tất cả, chỉ mang theo gạo, lương khô, vũ khí cá nhân và những vũ khí cộng đồng còn đủ đạn xử dụng. Chúng tôi chiếm ngọn đồi có tượng Chúa làm vị trí phòng thủ. Ðây là một căn cứ quân sự rất kiên cố, được quân phiệt Nhật xây dựng từ thời Ðệ Nhị Thế Chiến, bên trong có một đường hầm rất kiên cố có thể chứa được hằng ngàn người. Lúc đó dân chúng địa phương kéo vào đây lánh nạn rất đông.

            Lại một đêm dài không ngủ trôi qua rất chậm như những đêm dài VN suốt 20 năm chinh chiến trên quê hương khổ đau. Tiếng súng trong thành phố vẫn tiếp diễn không ngớt, kéo dài tới cả buổi sáng 30-4-1975 và cuối cùng là lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, kết thúc vận hội của dân tộc VN bước vào ngưởng cửa của thế giới văn minh nhân loại.

            Tôi bắt tay giả từ Thiếu Tá Tiến Tiểu Ðoàn Trưởng ,ợ Ðại Uý Chương Tiểu Ðoàn Phó và anh em Tiểu Ðoàn 229/ÐP, tìm ghe trở về quê nhà để thăm viếng cha mẹ vợ con, trước khi bước vào địa ngục VC đang sẳn sàng đợi người quân cán chính VNCH bại trận.

            Ba mươi lăm năm qua rồi nhưng lịch sử cận đại nước Việt vẫn còn đó chứ không sang trang như nhiều người đã ngộ nhận lúc ban đầu. Hãy nói lên những sự thật của lịch sử để tự trọng và xứng đáng là người cầm bút, là người lính hay ít nhất cũng là một bình dân lương thiện. Ðó là cách duy nhất đền đáp lại mối ân tình đối với người chiến sĩ một đời hy sinh hạnh phúc và mạng sống của mình cho đời.

            Người lính Bình Thuận, những Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cán Bộ, Cảnh Sát .. một đời xứng đáng để các thế hệ trân quý noi gương. Chúng ta đã không lầm lẫn khi đã viết bất cứ một trang sử nào nói về “ Sự Hy Sinh Cao Quý của Người linh VNCH “.

Hoa Kỳ Tháng 4-2010
Cao Hoài Sơn

Cuối Năm Nhắc Lại Những Tài Danh Làm Đẹp Phan Thiết & Bình Thuận MƯỜNG GIANG

           Làm cho Bình Thuận và Phan Thiết có được sự thành công và trân quý như hôm nay, là công khó máu chan cơm, nước mắt thay canh của tiền nhân qua bao thế hệ. Họ là con dân Đại Việt vùng Thuận Quảng, tay gươm tay cuốc, theo đoàn quân Nam tiến của Chúa Nguyễn tới đây rồi dừng bước và tận dụng tài năng để biến sõi đá thành ruộng đồng, rừng già biển dữ trở nên kho bạc vàng châu báu cho con cháu tận hưởng muôn đời.

          Họ là tráng sĩ vung gươm giữ yên nhà nước, là các anh hùng Nguyễn xuân Ôn, Ưng Chiếm, Bùi Hàng, Cao Hành.. nối tiếp là Vũ Anh Khanh, một đời vì nước dù thân xác có bị giặc Pháp phanh thây phơi xác. Họ là hậu duệ của lớp sĩ phu yêu nước, là những người Hàm hộ, Phú Ông, Điền Chủ.. giàu có nhưng dùng gia tài riêng để lo chuyện quốc sự. Hai người trong lớp tiền phong tiêu biểu của Bình Thuân là Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh, con Nguyễn Thông.. được coi như các nhân sĩ nồng cốt trong phong trào Duy Tân tại Phan Thiết do Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh khởi xướng từ đầu thế kỷ XX...

          Trên đỉnh cao trí thức lúc đó, cũng không thể quên cử nhân Trương gia Mô, con của sĩ phu Trương gia Hội, đồng khoá với Trần quý Cáp, Huỳnh thúc Kháng, Phan chu Trinh, Nguyễn sinh Sắc.. Ông có viết Gia Định Tam Tiên Liệt Truyện, ca tụng ba vị anh hùng chống Pháp tại miền Nam là Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân và Nguyễn Trung Trực. Về cái chết của ông chỉ biết mất năm 1929, sử liệu không thấy đề cập tới lý do..

          Ngoài ra còn có HỒ TÁ BANG (1875-1943), sinh tại Hương Điền, Thừa Thiên nhưng làm việc và lập nghiệp tại Phan Thiết vì là nghĩa tế của hào phú họ Huỳnh tại đây. Ông là chiến sĩ trong phong trào Duy Tân miền Trung, bạn đồng chí của Trương gia Mô, Phan chu Trinh, góp công nghiệp rất to lớn và quan trọng trong công cuộc Duy Tân tại tỉnh Bình Thuận. Là một thế gia vọng tộc, con trai là bác sĩ Hồ tá Khanh từng giữ chức Bộ Trưởng Kinh Tế trong chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, con rễ là Kỹ Sư Lâm tô Bông cũng giữ nhiều chức vụ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông mất năm 1943 và mộ phần hiện tại Phan Thiết, có lưu lại Tế thủ tiền lổ văn. Phải kể thêm các thân hào Huỳnh văn Ngô, Nguyễn văn Chu, Đinh văn Mỹ, Huỳnh ngọc Vinh, Huỳnh ngọc Chi.. là những người đã góp phần chấn hưng nền kinh tế trong tỉnh, mang đến nghề nghiệp cho mọi giới tại Phan Thiết, trong đó có ngư dân và lao động..

          Kỹ Sư LÂM TÔ BÔNG cũng là một trong những khuông mặt khả ái của Bình Thuận. Ông sinh năm 1915 tại Quảng Ngãi nhưng coi mình là người Bình Thuận vì lập gia đình với bà Hồ Tiểu Sinh tại đây. Nhưng trên hết cuộc đời của ông đã gắn liền với các sinh hoạt của Phan Thiết như phong trào Hướng Đạo Sinh 1945-1950, công cuộc tế bần 1942-1945 và điều hành trường tư thục Cẩm Bàn.. Theo bài viết của Kỹ Sư Trương Tiến Huân (em ruột Thầy Trương Tiến Hinh) cũng là một nhân sĩ của tỉnh nhà, thì trong vụ đói năm Ất Dậu 1945 tại Bình Thuận, đoàn Hướng Đạo do ông Lâm tô Bông hướng dẫn, đã quyên góp tiền bạc, thực phẩm, cứu trợ đồng bào bất hạnh.

          Làm đẹp Bình Thuận còn có Tiến Sỹ NGUYỄN XUÂN THỌ, sinh năm 1916 tại PhanThiết, đã tốt nghiệp Tiến sĩ Văn chương tại Đại học Sorbone Pháp với các ngành về Ngoại giao, Chính trị, Cao học quốc tế, Cao học xã hội. Cựu thỉnh viên Hàn Lâm Luật Học Quốc Tế La Haye (Hoà Lan), cựu công chức Bộ Ngoại Giao Pháp làm việc tại Madrid (Tây ban Nha) và Đức. Tác phẩm " Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại VN (1858-1897)", xuất bản tháng 1-1996, được các sử gia, học giả Phạm cao Dương, Lưu trọng Khảo, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn sĩ Tế.. đánh giá cao về giá trị tri thức và sử liệu.

          Tiến Sỹ Dưọc Khoa Trương Văn Chôm sinh ngày 5 tháng 1 năm 1923 tại Phan Thiết. Là học sinh trường Trung Học Petrus Ký Sài Gòn. Sau khi đổ Tú Tài 2, năm 1948 du học Pháp ngành Dưọc. Năm 1956 về VN mở nhà thuốc Tây tại Bến Chương Dương và dạy môn Hóa Học Hữu Cơ tại Đại Học Y Khoa Sài Gòn. Chính Ông là người đã tranh đấu nhiền na9m để Phân Khoa Dưọc trở thành Đại Học Dưọc Khoa và Ông là Khoa Trưởng. Kế tiếp Ông là Giáo sư Nguyễn Vĩnh Niên tới tháng 4-1975, sau đó VC lại đem Dưọc Khoa sáp nhập vào Đại Học Y Khoa.

          Đồng thời với Tiến Sỹ Trương Văn Chôm là Tiến Sỹ Chính Trị Học Ngô Hữu Thời sinh quán tại Hòa Đa Bình Thuận. Ông là cựu Dân Biểu Đệ Nhất VNCH. Sau đó là Phó Giám Đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng và Giáo Sư tại Trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt, giảng dạy về môn Ngân Hàng..

          Về  lãnh vực giáo dục, người Phan Thiết cố cựu không ai không biết tới ông HOÀNG TỶ, sau này kế tiếp là Hoàng Tư, với các tư thục đầu tiên tại Phan Thiết, đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ thanh niên nam nữ làm rạng danh với đời. Hoàng Tỷ còn là bạn tâm đắc của cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm khi ông còn làm quan Tri phủ Hoà Đa và Tuần Vũ Bình Thuận. Lúc còn sinh tiền (1955-1963), Tổng Thống Diệm khi có dịp kinh lý Phan Thiết, thường đến viếng mộ phần cố nhân chôn tại khu đất riêng trên đường Nguyễn Hoàng, gần trường Phan Bội Châu.

          Là chốn ăn chơi, tuy không bằng các công tử miền sông Tiền, Sông Hậu nhưng Phan Thiết lại có nhiều nhà mạnh thuờng quân giàu lòng hảo tâm. Đây chính là động lực đưa hội tuyển túc cầu Phan Thiết nở mặt khắp bốn miền đất nước trước năm 1975. Họ là Phạm tư Tề, Trần khải Hoàn, Hoàng thọ Vĩnh.. về sau có Tăng Khánh, Thành Kim, Vĩnh Lợi, Dương Quang Thiết..

          HUYỀN VŨ cho tới nay vẫn đưọc coi là Ký giả thể thao VN không địch thủ. Trước năm 1975, Huyền Vũ là một trong những ký giả thể thao nổi tiếng nhất của Việt Nam Cộng Hòa, tên thật là Nguyễn ngọc Nhung, sinh năm 1915 tại Phú Trinh Phan Thiết. Người Bình Thuận xưa nay nổi tiếng ham thích thể thao, mê coi đá banh mà Phú Trinh lại là địa phương sản xuất nhiều cầu thủ nổi tiếng như Vinh, Ta và Huyền Vũ. Trước đây nhiều người vì bận rộn sinh kế, nên thường ít tới sân banh để xem các trận giao đấu giữa các hội trong và ngoài nước. Không sao, họ chỉ cần mở máy thu thanh của đài phát thanh Sài Gòn hay Quân Đội, là có thể thưởng thúc đầy đủ, qua giọng truyền cảm thu hút của ký giả thể thao Huyền Vũ. Ngoài ra ông còn là một nhà văn, đã viết nhiều bài phóng sự giá trị trong bộ môn  thể thao, đăng tải trên hầu hết các báo chí Sài Gòn thời đó. Theo Đinh văn Ngọc, trong hồi ký " Hai mươi năm thăng trầm ", cho biết Huyền Vũ với bản chất trung thực, ăn ngay nói thẳng cũa người Phan Thiết, nên đã va chạm với một số người khi hành nghề.

          Bắt đầu vào nghề rất sớm trên hai đài quân đội và Sài Gòn, qua tường thuật các trận đấu bóng rổ, bóng bàn và bóng tròn. Năm 1956 làm phóng sự giải Merdeka tại Mã Lai. Năm 1958 phóng sự Á vận hội tại Nhật. Năm 1959 giải Đông nam Á vận hội tại Vọng Các, Thái Lan và sau đó coi như đi hầu hết các quốc gia Á Châu, để tường thuật về các trận tranh giải thể thao quốc tế. Ngoài ra, ông cũng tới Ba Tư, Tây Đức làm phóng sự thể thao. Đồng bào Việt Nam Cộng Hòa thời đó nhờ những bài tường thuật sống độïng sôi nổi này, mà biết được tin tức và thực trạng thể thao khắp năm châu, bốn biển. Năm 1975, lưu vong và hiện đang sống tại Hoa Kỳ.

          Noi bước đàn anh, Phan Thiết còn có Mai Xuân Cúc, cựu học sinh TH Phan Bội Châu, Đại Uý QLVNCH. Ông đã viết nhiều bài báo giá trị về bộ môn thể thao tại tỉnh nhà trước tháng 5-1975. Nhờ vậy chúng ta mới biết đưọc Đội Bóng Tròn Phan Thiết, các Danh Thủ Quân Vợt, Bóng Bàn địa phương như Nguyễn Văn Cung, Đinh Văn Phùng, Đinh Quốc Hùng, Đinh Quốc Cường, Đinh Quốc Tuấn..

          Là người Phan Thiết, chắc ai cũng giống ai về sự đa sầu đa cảm mà trời thường đặc ban cho người miền biển, vốn có sẵn trong trăng thanh gió mát, sóng nuớc gợi tình. Bởi vậy cứ mỗi lần vô tình nghe từ đâu đó, vọng lại các loại đàn tranh, kìm, độc huyền.. hoà điệu vơi những bài bản nam hay bắc, là hồn như muốn trổi dậy cái thời xa lắc miên mang chốn Phan Thành. Nhớ hoài dòng sông Cà Ty nước ròng, nước lớn, lấp lánh đèn nhà ai toả sáng đôi bờ, dòng sông của tuổi thơ một thời đáng nhớ.

          Sao mà không mềm lòng được với những hò, xự, xang, xê, cống.. với vọng cổ, xuân tình, tây thi, tứ đại oán.. để rồi khựng nhớ tới lớp nghệ sĩ tiền phong tài tử của Phan Thiết thời vui chơi xã láng của Ba Bữu, Song Én, Mười Quờn, Năn.. nhưng nghề nhất là ông Phan Sinh thiện nghệ gần như tất cả nhạc cụ cổ truyền và có những ngón tay nhảy múa trên phím đàn rất là tình tứ và mời gọi. còn giọng ca thì ai hơn được Năm Bờ, Tám Mới hay Tao Ngộ?

          Ngay từ các thập niên 20-30, thị xã Phan Thiết đã có tới ba rạp hát là rạp Bà Đầm , chủ nhân là bà Oggéri người Ý, sau tân trang thành rạp Modern. Tại ngã bảy có rạp Ciné Star của một thầu khoán Pháp tên George Motte, sau đổi tên là Ánh Sáng. Một rạp khác ở đường Trần Hưng Đạo tên là Odéon, sau đổi là rạp Hồng Lợi, chuyên hát cải lương, chủ nhân là Phan bá Thiện tức Thất Ngàn. Rạp Lilas ở đường Nguyễn Du mở cuối thập niên 50. Bây giờ phong trào cải lương, hát bội đang khởi sắc ở Trung, Nam kỳ. Phan Thiết là chốn thị tứ nên cũng đã có nhiều gánh hát bội của các bầu Tiền, Sầm, Kiểm, Hoạch.. nhiều đào kép nổi danh như kép Bành, kép Xưa, cô đào Năm Nam tài sắc vẹn toàn, làm ai cũng ái mộ, thương nhớ.

          NGHỆ SĨ VĨNH LỢI tên thật là Nguyễn văn Bé, sinh năm 1926 tại Đức Nghĩa. Ông bắt  đầu đóng kịch với cô Sáu ngọc Sương và các nghệ sĩ tiền phong của Phan Thiết lúc đó như Năm Nam, Trần Thiện Hải, Mai Hiếu, Nguyễn văn Khánh (thân phụ của diễn viên điện ảnh Trà Giang).

          SÁU NGỌC SƯƠNG là một nghệ sỹ cải lương nổi tiếng tại Sài Gòn vào thập niên 40-50, sinh quán tại Đức Nghĩa, Phan Thiết. Cô Sáu từng là đào chánh các đoàn cải lương nổi tiếng thời đó như Phước Chung, Tiếng Chuông, Sống Mới.. đi lưu diển khắp Việt Nam, qua tận Nam Vang, Vạn Tượng và Ba Lê. Tại Phan Thiết, gánh hát bội của bầu Hoạch, thân phụ đào Năm Nam, đã chuyển hát cải lương với tên Tiến Hoá mà Trúc Viên là soạn giả chính của đoàn cũng là chồng của đào Năm Nam. Ngoài ra Sáu ngọc Sương còn là đào chính của ban Việt kịch Năm Châu ở Sài Gòn. Sau này hai cô Sáu ngọc Sương và Năm Nam  về Phan Thiết, hợp tác với Trần Thiện Hải, thân phụ Nhật Trường, trình diễn các vở nhạc kịch tại Phan Thiết như Tâm hồn thôn nữ, Bức màn Yên Bái, Khúc ly ca.
 
          Giữa thập niên 30 ra đời hai bộ phim Cánh Đồng Ma và Trận Phong Ba tại Hà Nội của đạo diển Đàm quang Thiện, làm Sài Gòn xôn xao. Năm 1937-1938, Nguyễn tất Oanh từ Pháp về hợp tác với hãng Asia thực hiện cuốn phim trắng đen 36 ly " Trọn với Tình ". Hai nam nữ diễn viên chính của phim là DUY CHÁNH và QUỲNH KHANH đều là người Phan Thiết. Ngoài ra theo lời nghệ sĩ Vỉnh Lợi, thì tại PhanThiết cũng có quay một cuốn phim " Cánh Đồng Ma ",do Duy Chánh và Quỳnh Khanh đóng. Phim thực hiện xong nhưng không biết vì lý do gì, không được trình chiếu tại rạp Modern như chươg trình đã  định. Tài tử Duy Chánh tên thật là Trần Duy Chánh, sinh tại Đức Nghĩa Phan Thiết, em ruột họa sĩ Duy Liêm. Ngoái ra còn có MAI HIẾU cũng là một nghệ sĩ tài hoa của Phan Thiết, nổi tiếng một thời trong các lãnh vực điện ảnh, kịch nghệ và nghệ thuât tranh dán giấy.

          NGỌC CẨM & NGUYỄN HỮU THIẾT là những người Phan Thiết nổi danh đầu tiên trong lãnh vực tân nhạc, đồng thời với Hồng Phúc cũng người Phan Thiết, tại đài phát thanh Pháp Á. Họ nổi tiếng từ bài hát " Dân ca lúa vàng ".

          DŨNG CHINH, sống mãi với " Những Đồi Hoa Sim ".. Tên thật là Nguyễn văn Chính, sinh tại Bình Hưng Phan Thiết, con ông Nguyễn xuân Hước, Trưởng Ty Bưu Điện Bình Thuận. Bản tính hiền lành ngay từ lúc còn đi học, Dũng Chinh đã hoạt động văn nghệ trong gia đình Phật tử Phan Thiết và tài năng đã nẩy nở từ đó. Đầu tiên Dũng Chinh ở trong binh chủng hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Bộ ba Dũng Chinh, Anh Thi và Huy Hoàng (cũng Phan Thiết), đi khắp sông hồ nơi có bóng hải quân để trình diển. Là một ca-nhạc sỹ thông thạo nhiều nhạc cụ kế cả trống, sáng tác nhiều ca khúc để đời như Tách Trà Xưa, Tha La Xóm Đạo (phổ thơ Vũ Anh Khanh) nhưng có lẽ Chinh thích nhất là bài " Những Đồi Hoa Sim ", phổ thơ Hữu Loan.

          Giữa thập niên 60, Dũng Chinh thuyên chuyển về một đại đội tác chiến thuộc Trung đoàn 45/SĐ23BB và Ông đã tử thương trong cuộc phục kích tại An Phước, Ninh Thuận. Sau đó Dũng Chinh được chôn tại nghiã trang quân đội Nha Trang trên đèo Rù Rì. Một đĩa nhạc " màu tím hoa sim ",được những người thân đặt nơi phần mộ, để chiều chiều, sáng sáng hay giữa lúc khuya buồn, nhớ nhà, nhớ Phan Thiết, Dũng Chinh lại hát: 'bình hương xưa ngày cưới ,nay thành bình hoa tàn lạnh vây quanh..'.

          NHẬT TRƯỜNG & TRẦN THIỆN THANH là một tên tuổi lừng lẫy trong giới ca nhạc sĩ miền Nam suốt hai thập niên 60, 70 và tới bây giờ. Những ca khúc của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về quê hương điêu tàn trong thời lửa loạn, về thân phận của người lính chiến nổi trôi theo vận nước, về những điạ danh bất tử trong dòng quân sử cận đại Ashau, Ia-Dran, Kon Tum, Tân Cảnh.. sẽ miên viễn như  Đại Tá Bảo tại Charlie "Anh không chết đâu anh ".

          Nhật Trường tên thật là Trần Thiện Thanh, sinh tại Phú Trinh Phan Thiết. Cựu học sinh trường TH Phan Bội Châu.. Phụ thân là Trần thiện Hải cũng là một nghệ sĩ kiêm soạn giả nổi tiếng của Phan Thiết. Chất nghệ sĩ và núi sông miền biển mặn đã tạo cho Nhật Trường một khả năng sáng tạo đặc biệt cộng thêm lối trình diễn sôi động độc đáo làm cho tên tuổi của người ca nhạc sĩ tài hoa đất Phan Thành vang danh theo bước chân lính khắp các vùng chiến thuật. Đâu có lời nào buồn hơn, thắm thiết hơn và làm rơi nước mắt khi bất chợt nghe được những  não nùng từ " anh về với em rồi mai lại đi " hay " vào một đêm sương có người trai hồi hương, báo một tin thật buồn " hoặc " từ khi đôi đứa đôi đàng. ".Về quê hương Phan Thiết, ngoài ca khúc Lầu ông Hoàng, Hàn mạc Tử, nhạc phẩm " Biển Mặn ", đã gói ghém trọn vẹn tình của người miền biển, theo con sông phát nguồn từ Trường Sơn chất ngất, ôm ấp tình thương, nước ra sông nguồn.. Xóm Lụa, Phú Hài, Cà Ty, Thương Chánh.. Trần Thiện Thanh mãi sống trong hồn người dù " nếu em biết rằng có những người đi đấu tranh chưa về.. vì mang lời thề lên miền sơn khê..".

          PHƯƠNG ĐẠI, Sinh tại Phú Trinh năm 1940, học Bạch Vân và Nguyễn Bá Tòng, Phương Đại tên thật là Trần đại Phú, bạn thân của Dũng Chinh, nổi tiếng hát hay từ khi còn đi học nhờ sự chỉ dẩn cũa ca sỉ Nguyễn hữu Sáng từ lúc đầu. Năm 1964, Phương Đại gia nhập QL Việt Nam Cộng Hòa và cùng với Thanh Phong, Duy Mỹ thành lập ban tam ca 'Sao băng' trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, chuyên hát cho lính nghe khắp bốn vùng chiến thuật, mà bài hát tiêu biểu nhất ai cũng ưa thích, đó là bài "Tôi trở về thành phố " của Y Vân .Năm 1986 đang lúc trình diễn trên sân khấu, Phương Đại bị bạo bệnh và đời trai chưa thỏa mộng từ đó. Định cư tại Mỹ năm 1990, nhờ sự chăm sóc hết mực của hiền phụ Trần thị Hường, hiện Phương Đại đã nói và đi được tuy không bằng lúc trước.

          ANH KHOA Sinh năm 1948 tại Đức Thắng, Phan Thiết, Anh Khoa tên thật là Trần công Khai, cựu học sinh trường bán công Phan Chu Trinh Phan Thiết và tư thục Nguyễn Huệ Nha Trang. Đã nổi danh từ năm 12 tuổi khi đoạt giải nhất đơn ca với bài " Một mai anh biệt kinh kỳ", khi đại diện cho tỉnh Bình Thuận dự Đại Hội Văn Nghệ Ấp Chiến Lược toàn quốc tổ chức tại Sài Gòn. Từ đầu thập niên 70 trở về sau, chiến tranh càng ngày càng trở nên ác liệt tại miền Nam, thanh niên nam nữ trước nỗi chết bất chợt, đã yêu cuồng sống vội. Đây là giai đọan khởi sắc của nhạc vàng, nhạc xanh rất hợp với giọng ca trầm buồn chất ngất của Anh Khoa qua các ca khúc " Anh đến thăm em đêm 30, Nửa đêm chờ sáng, Bài không tên số 7..", đưa tên tuổi người ca sỉ trẻ của Phan Thành vào tâm hồn mọi người trong lúc buồn. Năm 1989 Anh Khoa tới Hungary và cũng kể từ đó tiếng hát lại theo thời gian giống như những bài không tên năm nào của Vũ thành An, đưa người ca sĩ trở lại với dòng đời và đồng huơng Phan Thiết.

          MINH HÙNG tới Mỹ năm 1985, vẻ vang đoạt giải Khôi Nguyên Vọng Cổ 2000 do Hội Gò Công tổ chức và đã được nhiều báo ở Orange County như báo Tiền Phong, Người Việt, Đông Phương, Mai, Nghệ Sĩ, Việt Báo Kinh Tế, Viễn Đông giới thiệu là một tài năng cổ nhạc của đảo Phú Quý, Bình Thuận.


          Nguyễn ngu Í là một ký giả lão thành và nổi tiếng trong báo giới miền Nam, qua các bài phỏng vấn, đàm thoại các tên tuổi lừng lẫy đương thời trước năm 1975. Ông tên thật là Nguyễn hữu Ngư, sinh ngày 20-4-1921 tại Hàm Tân, Bình Thuận và mất tại Sài Gòn vào tháng 8-1977. Ngoài bút hiệu trên, ông còn lấy nhiều bút hiệu khác như Trinh Nguiên, Tân Fong Hiệb, Phạm hoàng Mĩ, Trần hồng Hừng, Lưu Nguiễn, Ngê bá Lí.. Để giãi thích về những chướng tai gai mắt trong cách sử dụng các âm e,c,g,i,y.. bất bình thường, trái với âm luật Việt ngữ, Nguyễn ngu Í cho biết vì qua bất bình từ thuở nhỏ về chữ quốc ngữ, mà thấy gần nửa thế kỷ qua, vẫn không được ai cải cách. Thật ra đây cũng chỉ là cách nói của người cầm bút, vì ai cũng biết Nguyễn ngu Í cầm bút rất sớm từ năm 1939. Sau đó hoạt động văn nghệ một thời gian dài tại liên khu 5, chán chê mới bỏ về tề nhưng vẫn được báo giới miền Nam mở rộng vòng tay đón nhận để thành danh nhưng vẫn không dám quên gốc cũ. Ngoài việc hợp tác thường xuyên với Bách Khoa, Mai, Sáng Dội Miền Nam, Hòa Đồng Nghệ Thuật.. còn có nhiều tác phẩm như  Khi người chết có mặt (1962), Sống và viết (1966), Hồ Thơm Nguyễn Huệ Quang Trung (1967), Quê hương (1969)..


          LÊ HƯƠNG, nhà biên khảo số 1 của Bình Thuận. Nổi danh từ năm 1952 với tác phẩm 'Quả đấm thôi sơn'. Sau đó ông đã tự chọn cho mình một lối đi gần như cô độc giữa phong trào trăm hoa đang đua nở trong vườn ngự uyển của miền Nam. Đó là viết phóng sự, một bộ môn gần như bị chê vì tính cách khô khan, không lối thoát , vậy mà ông đã thành công với những tác phẩm sưu khảo giá trị vượt thời gian.

          Tên thật là Lê quang Hương, sinh ngày 22-9-1922 tại Cao Lãnh, Kiến Phong nhưng gia đình đã tị địa tại Phan Thiết, Bình Thuận lâu đời và có nhiều người khác cũng nổi tiếng như Lê quang Nghiêm (em ruột) giải nhất biên khảo 1969 của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, về tác phẩm: Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa. Ngoài ra còn có Lê hữu Lễ và Trịnh thi Hương.. cũng là các nhà báo nổi tiếng của Bình Thuận.

          Sống nhiều năm trên đất Chùa Tháp từ 1942, nên ông thông thạo Miên ngữ cũng như các phong tục tập quán của người địa phương nên đã viết được nhiều tác phẩm biên khảo để đời, qua hình thức ký sự. Góp phần tạo nên sự thành công trên là nhờ phần lớn thời gian làm thông tín viên cho Việt Nam thông tấn xã tại Cao Mên, cũng như phụ trách nhiều tờ báo của Việt kiều Kampuchia, nên ông có những dữ kiện lịch sử chính xác, làm cho tác phẩm không bị cô động. Điểm đặc biệt nữa của Lê Hương  là văn chương ông rất sâu sắc, gần như bi phẩn cay cú, trước nổi tân khổ của kiếp người Việt Nam trong thời loạn.

          Là người Phan Thiết nên ông rất am tường về phong tục tập quán của người Bình Thuận và đã kể lại trong " Truyện ký Việt Nam " nhiều chuyện xưa tích cũ của Bình Thuận ba trăm năm qua như chuyện Cô Gái Không Xương ở Phan Rí, Long Vương Lấy Gỗ năm lụt Nhâm Thìn 1952, Chuyện Người Pháp trù ếm dân Bình Thuận tại Núi Cú, Người Hoa hãm hại người Hoa ở Phan Thiết..

          Tóm lại Lê Hương là nhà biên khảo lớn của miền Nam trước năm 1975, được giãi nhất phóng sự 1969 của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua tác phẩm 'Chợ Trời Biên Giới'. Ngoài ra còn có Người Việt  gốc Miên (1969), Tìm Hiểu Angkor (1969), Sử Cao Mên (1970), Việt Kiều tại Kampuchia (1971), Sử Liệu Phù Nam (1974)..


          PHẠM VĂN NHÀN , nhà văn nhân chứng. Phan Thiết ít người biết tới nhà văn Phạm văn Nhàn dù ông  đã thành danh trước năm 1975 với các truyện ngắn đăng rãi rác khắp các báo ở Sài Gòn. Viết về Phạm văn Nhàn, dù hai đứa có biết nhau thời tuổi học, thì đại khái Phạm văn Nhàn, tên thật cũng là bút hiệu, sinh năm 1943 tại Phan Thiết, Bình Thuận, cựu học sinh trung học Phan Bội Châu, cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu tù nhân Cộng Sãn, hiện sống tại Mỹ. Cộng tác với nhiều tờ báo ở Canada và Hoa Kỳ, năm 2000 xuất bản tập truyện 'Vùng đồi' gồm nhiều truyện ngắn.
Trần hoài Thư, người bạn chung đơn vị với Phạm văn Nhàn lúc còn ở SĐ22BB, đã viết một cách cảm động khi cám ơn thượng đế đã cho ông một người bạn tốt, cho nhiều hơn nhận, đến với bằng hữu không thắc mắc hỏi han.. Đây cũng chính là bản chất của người Phan Thiết, ăn ngay nói thẳng, chơi bạn chân tình. Bởi vậy cũng đừng ngạc nhiên khi Trần băng Thach nhận xét về nhà văn Phạm văn Nhàn một cách chí lý, đại khái ông viết văn như đang kể chuyện trên mặt giấy, tóm lại các nhân vật của Nhàn trong mọi cốt chuyện, dù là ai, thì họ cũng chính là nhân vật ảo của chính tác giả, là ta đó. Cho nên trước hay sau 75 thì cũng vậy, phận người nhược tiểu Việt Nam, biết có gì vui?

          PHẠM ĐÌNH THỪA là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng qua các bài quan điểm, xã luận đăng rãi rác khắp các báo tại hải ngoại, Phạm dình Thừa còn là một người thơ có tâm hồn ướt át trữ tình, khiến cho tha nhân cũng buồn lây bất chợt. Sinh và lớn lên tại vùng cát sông bồi, kế cạnh con sông Cà Ti bên bờ Đức Nghĩa, Phan Thiết năm 1944, cựu học sinh trường Nam Tiểu Học Phan Thiết và trung học Phan Bäi Châu, cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Sài Gòn, cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khóa 19 Vỏ Bị Đà Lạt. Qua bút danh Phan Thiết, Phạm đình Thừa từ năm 1975 tới nay đã cộng tác với nhiều báo chí hải ngoại, từng làm chủ bút tờ Đa Hiệucủa trường Vỏ Bị Quốc Gia nhiều năm, văn phong, tư tưởng luôn xứng đáng là Vũ Anh Khanh thời đại.'..tôi lớn lên bên dòng sông Mường Mán, con nước buồn mỗi độ chuyễn phù sa, hồn tuổi nhỏ theo tình sông lai láng, bập bềnh trôi trên vùng biển bao la..'

          Cát bồi sông lở, hay chính ta đang đứng chơi vơi nơi cõi muôn trùng để hoài vọng về đời trai chưa thỏa chí mà nước mắt đã lưng tròng.


          TỪ THẾ MỘNG sinh năm 1937 tại Huế nhưng sống tại Phan Thiết và làm thơ, viết văn hơn 40 năm qua. Như những lời ca trong tình khúc 'Chiều Hoang' của PhạmMỹ Lộc mà ta mang máng nhớ, làm ta liên tưởng tới dòng thơ của Từ thế Mộng cũng có lúc mi em thật mềm như lời ca dao, có khi miên man mi vút như lối Đường thi và cuộc đời ở lại sau ngạc nhiên thảng thốt như bậc thiền triết trong phút đốn ngộ. Tóm lại thơ cuả Anh buồn nhưng cũng đủ ru giữa hồn người những khúc xoan ca. Đã xuất bản Tiếng Thơ Miền Trung , Tình Thầm Lặng, Biển Của Một Thời, Lời Ca Cỏ Non.

          Họa  Sĩ DUY HUỆ tuy không nổi tiếng như Duy Liêm, nhưng ông cũng là một trong những nhân tài  lừng lẫy, một thời  làm rạng danh Phan Thiết, Bình Thuận. Nhận xét về tranh của Duy Huệ qua các lần triển lãm tại Sài Gòn, Nha Trang, Phan Thiết.. nhà văn Thanh Hồ đã viết " tranh Duy Huệ như triều sóng trẻ vươn lên, chẳng khác gì Marcel Duchamp ngày mới nắm nơi tay chiếc đủa thần, vẫy vùng dọc ngang một mình trong cõi trời nghệ thuật. Nhưng hình có một sự dằn vặt nào đó, làm cho người nghệ sĩ mâu thuẩn, cấu xé nội tâm.. và trong tranh đã phảng phất những đường nét buồn đọng u hoài, làm cho khách ngắm tranh cũng bâng khuâng dào dạt ".

          Riêng Trung Tá Nguyển Quốc Hoàng, Tỉnh Trưởng Bình Thuận (1963-1965) cũng viết: " rất xúc động khi xem triển lãm của Duy Huệ , một họa sĩ rất trẻ tuổi, đầy triển vọng ở tương lai. Qua bức 'Nắng vàng',  Duy Huệ đã cho ta thấy sức hăng say và sáng tác mạnh mẽ của họa sỉ ".
.
          Họa sĩ Duy Huệ tên thật là Nguyễn Duy Huệ, sinh năm 1942 tại BìnhHưng, Phan Thiết, trong một gia đình nho phong, thân phụ là ông Nguyễn trọng Nghĩa thông thạo chữ Hán, từng làm việc trong làng Đảng Bình (Bình Hưng - Hưng Long). Về sau mở trường tư dạy học và giữ chức Hội Trưởng Đình Đảng Bình, tọa lạc tại khu 2, Ấp Bình Hưng, cho tới tháng 5/1975. Ông học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Đinh với học bổng của Tòa Tỉnh Trưởng Bình Thuận và tốt nghiệp năm 1962. Ông cũng là cựu sĩ quan Không quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 3/1968 tới 1975.


          TRẦN THIỆN HIỆP là cựu học sinh Phan Bội Châu Phan Thiết (1952-1956), Trung học Hồ ngọc Cẩn, Sài Gòn, sinh tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, năm 1987 xuất bản tập thơ đầu tay " Cây Lá Phận Người ", rồi " Mặt Trời Lưu Vong năm 1993 và " Đỉnh Mây Qua " năm 1997, chẳng những làm cho tiếng tăm Trần thiện Hiệp thêm lừng lẫy , mà còn đưa nhà thơ vào một chổ đứng trang trọng trong vườn thơ Việt Nam hải ngoại.

          THU NHI họ Nguyễn sinh 1932 tại Bình Hưng, Phan Thiết.  Nguyên là giáo sư Việt Văn trường Trung học Bồ Đề Phan Thiết. Sau bài tùy bút đầu tiên đăng trên Phụ Nữ Diễn Đàn vào khoảng 1955, Thu Nhi có các bài viết kế tiếp đăng trên nhật báo Sài Gòn Mới. Cuối năm 1962 cô bắt đầu viết truyện ngắn, bút ký và thơ cho tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vĩ, thơ cho tạp chí Bút Hoa. Đâù thập niên 70, cô viết chuyện dài Thuyền Trôi cho nhật báo Công Luận.

          Thu Nhi là thành viên của tao đàn Bạch Nga từ năm 1963 và hội Văn Bút Việt Nam năm 1972. Cô đã xuất bản thi tập Trắng Đêm năm 1964.  Hiện đã viết xong 14 Chuyến Đi Đáng Nhớ như Tản Cư, Vào Tù, Vượt Biên, Đi Nói Chuyện Thi Ca, Đi Tây, Đi Tàu, Đi Nhật nhưng tập sách nầy chỉ xuất bản khi có người viết về chuyến đi cuối đời của Thu Nhi.

          Thu Nhi còn là Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ suốt ba nhiệm kỳ đầu 1983-1992, Phó Trưởng Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Việt Nam Hải Ngoại từ 1995 cho đến ngày xuất gia.

          THANH TRÍ CAO là bút danh của Hòa Thượng Thích Quảng Thanh. Thi sĩ Thanh Trí Cao, tên thật là Dương Thanh Tùng sinh năm 1951 tại Thanh Lương,Hòa Đa, Bình Thuận.  Từng là Tổng Vụ Trưởng Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, tổng thơ ký tòa soạn báo Trúc Lâm, viện chủ chùa Bảo Quang, Orange County, California, USA.

          Ngoài thơ và những bài viết được đăng trên các tờ báo Việt Ngữ, thơ Thanh Trí Cao được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc phát hành rộng rãi khắp nơi, phổ biến nhất là các nhạc phẩm Mẹ là Phật, Cảm Ơn Phật và Nước Mắt Mẹ Tôi. Thơ Thanh Trí Cao quyện vào nhạc hòa lẫn tình mẹ bao la tha thiết với quê hương. Đặc biệt, thơ của Thanh Trí Cao cất cao tiếng nói đòi Tự Do Dân Chủ và Bình Đẳng con người.

          Thanh Trí Cao có nhiều tác phẩm nghệ thuật cắm hoa, tranh sơn dầu, và non bộ đã từng dự các cuộc triển lãm quốc tế được tổ chức tại Hoa Kỳ.  Từ những tập thơ Trăng Ngủ Trong Mây, Trên Dòng Tử Sinh, Hương Vị Chân Tâm đến tác phẩm Hái Hoa Tuyết Đông, Thanh Trí Cao còn hứa hẹn sẽ xuất bản tập Trường Ca Tâm Pháp trong năm tới để góp phần vào vườn văn hoa nghệ thuật.


          SAO MAI, Sương Mai, tên thật là Mai Minh, Phan Bội Châu 1963, sanh năm 1942 tại Đức Nghĩa Phan Thiết.
Tốt nghiệp Á Khoa Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn 1966, Mai Minh được chọn làm giáo viên kiểu mẫu trường Sư Phạm Thực Hành Sài Gòn từ 1966 đến 1975.
Định cư tại Mỹ 1975, dời từ Arizona đến Montana và về Cali năm 1978. Tốt nghiệp AA Degree về Electronics Technology 1982 tại Orange Coast College California, nhưng cô yêu phấn trắng bảng đen nên làm làm phụ giáo tại các trường trong Học Khu Newport Mesa từ1981 dến 2001.  Nơi đây cô đã có dịp giúp đỡ nhiều đồng hương và các em học sinh trong bước đầu bỡ ngở nơi học đường mới.
Sao Mai có những bài viết về những mảnh đời lưu lạc và những bài tường trình các sinh hoạt của chùa cũng như hội Thân Hữu Bình Thuận đăng trên báo Phật Giáo Văn Học Nghệ thuật Xã Hội Trúc Lâm và đặc san Bình Thuận. Cô là một trong những khuôn mặt quen thuộc của hội Thân Hữu Bình Thuận.

           NGUYÊN CHI tên thật là Nguyễn Lương Chỉ, bác sĩ y khoa, sanh năm 1935 tại Phú Trinh, Phan Thiết. Ông bước vào kịch nghệ vào năm 1950 lúc còn ở Nha Trang trong Thanh Nhạc Kịch Đoàn.

          Ông bắt đầu sáng tác khi còn là sinh viên của Đại Học Y Khoa Sài Gòn. Các nhạc phẩm của Nguyên Chi đã được phát trên đài phát thanh Sài Gòn:
-         Tìm Vào Vòng Tay, Thái Thanh trình bày.
-         Đợi Chờ, Thanh Thúy hát cho ban nhạc Hoàng Thi Thơ.
-         Còn Đâu Nữa Em, sáng tác chung với Tâm Giao Nguyễn Hoàng Chung, Hà Thanh thu vào dĩa Continental.
Tại hải ngoại, Nguyên Chi cùng với Hoàng Cầm đã sáng tác nhiều nhạc phẩm trong các CD Xa Xứ, Trái Tim Lầm Lở và Dù Một Lời Gian Dối. Riêng CD Xa Xứ đã được phỏng vấn trên đài VOA năm 1998.
Hai nhạc sĩ cũng được biết tiếng qua phần sáng tác nhạc chủ đề cho các vở kịch nổi tiếng Lá Sầu Riêng, Lồng Đèn Đỏ và Sông Dài.
Hai ông cũng là tác giả của hai nhạc phẩm Lồng Đèn Vàng và Đừng Hỏi Tại Sao trong Video Thế Giới Nghệ Thuật 2 và 3.
Cùng với Hoàng Cầm, Nguyên Chi còn chứng tỏ khả năng viết kịch tiềm tàng của một bác sĩ y khoa qua các vở kịch:
-         Trường bi ca nhạc kịch Huyền Sử Tây Thi gồm mười nhạc khúc đã được trình diễn tại đại hí viện La Mirada miền Nam Cali năm 1999.
-         Kịch Chia Tay Mùa Thu với hai hai nhạc phẩm Chia Tay Mùa Thu và Hứa Với Em, vào năm 2000.
-         Bi hài kịch tâm lý xã hội Ngôi Nhà Cấm Đàn Ông với nhạc phẩm Ví Dụ Ta Quen Nhau, vào năm 2001.
Ngoài ra Nguyên Chi đang chuẩn bị phát hành CD Những Tình Khúc của Hoàng Cầm và Nguyên Chi vào năm 2002.
Trong niềm thương nhớ gởi về quê hương, Nguyên Chi đã phổ nhạc hai bài thơ dành riêng cho hội Thân Hữu Bình Thuận do Bảo Phương trình bày trong Nhạc Hội Bình Thuận 20 năm Viễn Xứ năm 1995 và Nhạc cảnh trong đêm Dạ Vũ Gây Quỷ Bình Thuận tại khiêu vũ trường Majestic, Huntington Beach năm 1998:
-         Mẹ, thơ bác sĩ Tùng Khanh, ái nữ của Nguyên Chi.
-         Phan Thiết ơi!  Phan Thiết, thơ Mường Giang.

          MỸ KHÊ tên thật là Đổ Minh Hưng, sanh năm 1947 tại làng Mỹ Khê, xả Tam Thanh, đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Tốt nghiệp trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị Đà Lạt năm 1969. Phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân, năm 1972 chỉ huy Đại đội Trinh Sát Liên Đoàn 5 BĐQ, quyền trưởng Ban 3 Liên Đoàn 32 BĐQ vào những ngày cuối tháng Tư năm 75.  Anh tham dự hầu hết những trận đánh lớn nội địa và ngoại biên Kampuchia.

          Định cư tại Mỹ theo diện HO4, Mỹ Khê hiện sống ở California.Mỹ Khê viết về nhiều đề tài, quê hương Phú Quý dành cho đặc san Bình Thuận, nhận định về thời cuộc và nhận xét về những sự việc đã qua dành cho đặc san Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, tâm tình của lính dành cho đặc san Biệt Động Quân . Phần lớn những bài thơ của Mỹ Khê được sáng tác và ghi nhớ nằm lòng trong tù trong những lẫn bị biệt giam, những bài thơ nói lên những nỗi khổ nhục và chí hướng của người trai

          HOÀI KHANH tên thật là Võ văn Quế, sinh năm 1943 tại Đức Nghĩa, Phan Thiết, công chức Việt Nam Cộng Hòa, gia nhập làng văn miền Nam rất sớm, chủ bút tập san " Giữ thơm quê mẹ ", đồng thời chủ trương nhà xuất bản Ca Dao. Tác phẩm gồm có: Dáng rừng (1957), Thân phận (1062), Lục bát (1968), Trí nhớ hoang vu và khói (1970).

           HỒNG NHẬT THIÊN THANH tên thật là Nguyễn Cát Tường, sinh tại Bình Định năm 1940 nhưng sống tại Phan Thiết, cựu Sỉ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phục vụ tại Tiểu khu Bình Thuận, cựu tù nhân Cộng Sản. Ông làm thơ viết văn rất sớm và đã đoạt được nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật vào năm 1956 tại Bình Thuận, năm 1966 trên toàn quốc và tại Hoa Kỳ năm 1991.. Thơ Hồng Nhật mạnh mẽ, hùng tráng, không ủy mị và vì là một chứng nhân lịch sử  của Bình Thuận, Phan Thiết nên có nhiều bài thơ châm biếm giặc một cách cay độc hóm hỉnh sâu xa. Đây cũng là cách trả thù ý vị của những người cầm bút miền Nam có nhân cách và lương tâm.

          NGUYỄN BẮC SƠN, điên hay tỉnh? khi viết về thân phận mình qua người lính Việt Nam Cộng Hòa, trước năm1975, Nguyễn bắc Sơn thật sự không phải là một người lính Việt Nam Cộng Hòa, vì người điên thật hay giả không đi lính bao giờ nhưng cũng giống như một số ít người miền Nam trước đây cũng tự khoác cho mình chiếc áo lính để có đủ tư cách và lý do bôi bác chế độ, phản đối chiến tranh mà họ đang làm kiếp ký sinh đục khoét sông nhờ trên thân thể bầy nhầy của mẹ Việt Nam, đang lãnh những vết đao, lằn đạn trí mạng do chính bàn tay con của mẹ, từ Hà Nội, Trường Sơn chỉa tới. Hởi ơi giữa cái đời lúc đó đang xôi sục bom đạn, máu lứa, xác người thì bỗng đâu lừng lững có mấy ông người gỗ, trên mình khoác áo lính, chắp tay thanh thản chờ chim bồ câu trắng mang hòa bình tới cho miền Nam, coi chính nghĩa là chuyện hão huyền, sống khề khà trong bửa tiệc nhân sinh. Thái độ này nếu không phải của người điên cũng là bọn nằm vùng phản trắc:
'..bi kịch của bố con tôi
là bi kịch của hai thằng tây đen'
(thơ NBS)
Nhưng dù gì chăng nữa, Nguyễn bắc Sơn còn khá hơn nhiều người trong cuộc sống bằng cái bã hư danh phù phiếm, vì ông đã hóa thân vào người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa, nói lên được một phần ngàn kiếp lính gian truân và bất hạnh.


          PHÒ MÃ LẦU ÔNG HOÀNG là nhà thơ nổi tiếng lâu đời của Phan Thiết, cùng thời với Hoài Khanh, Thế Viên, Từ thế Mộng, Thương Nguyệt ..
'..về Phan Thiết thèm ngâm câu lục bát
bạn ta ơi, Từ thế Mộng, Hoài Khanh
con sông ấy có trôi theo thân phận
có chở đầy trăng và thuyền cũng đầy trăng

Thương Nguyệt, Hoài Khanh, Từ thế Mộng, Thế Viên ơi
Một thưở bạn ta làm thơ ngất trời ngất biển
mùa mưa rừng cuồng lũ cuốn trôi đi sông Cà Ty
chiếc cầu gổ chứa chan tình phố nhỏ
bước chân em còn rung nhịp bồi hồi..'

Bây giờ gió bấc thổi về, cảnh đời tan tác, lữ thứ buồn miên mang, biết đâu mà hẹn chờ?

          QUÃNG NGÔN, có thơ đăng thật nhiều, đôi bài được phổ nhạc. Nhà thơ sinh tại Bình Hưng Phan Thiết, tên thật là Lê Ngữ, cựu học sinh Phan Bội Châu, cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu tù nhân Cộng Sản Kà Tót, hiện tị nạn tại Hoa Kỳ.
Trong cõi thơ của Quãng Ngôn, tha nhân thường bị khựng đứng bởi những ngẩn ngơ bất chợt của người thi sĩ lãng tử hơn là cái chất thiền vị mà ông cố gượng ép nhét vào như cái tên làm thành bút hiệu. Đến với Lê Ngữ vào những buổi chiều, buổi sáng, vào những không gian vơi đầy, vào cuộc tình, chén rượu hay bất cứ cõi nào, ta cũng thấy con chim kỷ niệm mãi còn lấp lánh như đang cất cao tiếng gọi giữa đời lưu lạc. Có phải thế không? hỡi những bước lang thang đang chờ một ngày trở lại ?

          NHẬT NGUYỄN tên thật là Nguyễn thị Nhật Tân, sinh tại Phan Thiết, Bình Thuận, cựu học sinh Phan Bội Châu. Nhật Nguyễn vào quán bên đường rất trể, không ai giới thiệu cũng chẳng bạn bè nhưng một vài chiếc lá đề thơ của người thơ vô tình bay veò nơi khung cửa bất chợt làm mọi người xôn xao và nhận ra tiếng hót cao vút của con sơn ca trong vườn ngự Phan Thiết. Nhật Nguyễn xuất hiện trên văn đàn Việt Nam hải ngoại từ năm 1996, cộng tác với nhiều tạp chí như Văn Học, Văn, Chủ Đề, Văn Tuyển, Văn Hoá Việt Nam..

          Nhiều truyện ngắn đã đăng trong Tuyển Tập 14 Tác Giả do Văn Tuyển xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ . Tóm lại, dù thơ hay văn, dù viết về một đề tài nào, tình yêu hay mảng đời quá khứ nơi ngưỡng cửa học đường của một thời tuổi dại, con chim sơn ca Nhật Nguyễn cũng hót đủ những lời ca, vang vang khúc nhạc hồng, làm cho mọi người bâng khuâng từng hơi thở, nơi phiến lòng chơ vơ.

          TIẾP SĨ TRƯỜNG tên thật cũng là bút hiệu, sinh và lớn lên nơi xóm Đầm, một miền quê hương êm đềm như tranh thủy mặc của Phan Thiết, nay đã tan biến theo bụi cát đổi đời. Là cựu học sinh Phan Bội Châu, cựu Sĩ Quan hoa tiêu của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhà thơ cũng là nhà binh hào hoa phong nhả, thơ Trường thả vèo trong mây, ngút ngàn theo gió suốt bao năm trường.

          Giờ đây nhìn lại chỉ còn gió cát, bụi mờ.

          ANH VŨ tên thật là Võ Đình Dược, sinh năm 1955 tại Hòa Vinh, Hàm Thuận, Bình Thuận, nguyên là học sinh Phan Bội Châu Phan Thiết và sinh viên  Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.
          Định cư tại Mỹ năm 1980, Anh Vũ tốt nghiệp BS tại California State University, Fullerton ngành Electrical Engineering năm 1988, và đã theo học các lớp Sáng Tác Hòa Âm tại Santa Ana College năm 1995-1997. Anh hiện sống bằng nghệ tự do với gia đình một vợ ba con tại Nam Cali.

          Văn thơ và nhạc phẩm của Anh Vũ hướng về Tình Yêu Quê Hương, Thân Phận Con Người và ba đức tính của người Phật tử Bi Trí Dũng, đã được đăng trên báo Người Việt, tập san Văn Hữu, đặc san Bình Thuận, đặc san Cư Sĩ Hoa Kỳ.  Anh Vũ dự tính sẽ ra mắt tập thơ ca nhạc CD Quê Hương và Nỗi Nhớ trong thời gian gần.
          .
          CÁT BIỂN tên thật là Nguyễn Văn Sáng, sinh năm 1950 tại Đức Nghĩa, Phan Thiết, Bình Thuận. Sau khi rời trung học Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1968, anh tiếp tục việc học tại Đại học Luật và Vạn Hạnh Saigon, nhập ngủ Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1969 và sau đó phục vụ trên các chiến hạm.  Năm 1973 anh được cử đi Du Tập với Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ tại 21 quốc gia Á Châu.

          Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975, Cát Biển đã tốt nghiệp BSEE tại Wilkes University, MSEE tại University of Houston, MBA tại Chapman University.
Cát Biển đã từng là President của Toastmaster International, Club 11 năm 1985-1987, đã đoạt First Place các giải diễn thuyết tại Texas năm 1984, California năm 1985, và đại diện Hoa Kỳ trong kỳ thi World Championship of Public Speaking năm 1985. Qua các bài tường trình trên Los Angeles Times và Orange County Register, Cát Biển được nhóm Người Việt mời làm Xướng Ngôn Viên đài  Truyền Hình Việt Nam tại Nam California năm 1985-1990. Ngoài ra, anh còn giữ chức vụ Director, New Products Development Dept., BEI tại Little Rock, Arkansas năm 2001.
Cát Biển là Hội Trưởng Hội Thân Hữu Bình Thuận kỳ 3,  năm 1999-2001. Thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ của thân phụ, nghệ sĩ Phan Sinh, Cát Biển đã thực hiện nhiều nhạc cảnh đặc sắc và đầy thử thách trong các sinh hoạt của hội như nhạc cảnh 'Tiếng Dân Chài' của Phạm Đình Chương trong Đêm Nhạc Hội Bình Thuận 20 Năm Viễn Xứ năm 1995,  nhạc cảnh 'Phan Thiết Quê Tôi' của Thu Hoài Nguyễn trong Đại Hội Bình Thuận năm 1997, và nhạc cảnh 'Phan Thiết Ơi, Phan Thiết', thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi trong đêm Dạ Vũ Gây Quỷ Bình Thuận năm 1998 .
Cát Biển có nhiều bài viết về quê hương theo thể loại hồi ký và sở trường về thơ. Đặc biệt thơ Cát Biển phản ảnh nhạy bén tâm tư của tác giả trước những biến cố thời cuộc.  Thi tập Trùng Khơi Sóng Vỗ vừa xuất bản là tác phẩm đầu tay và là tập hợp của gần 70 bài thơ và đoản văn.

          NGUYỄN VĂN TẠO Sinh năm 1951 tại Đức Nghiã Phan Thiết, tốt nghiệp Phan bội Châu Phan Thiết 1969. Sĩ Quan QLVNCH, Tốt nghiệp Cữ Nhân Khoa Học Ứng Dụng Trường VBQG Việt Nam, Tốt nghiệp Kỹ sư Cơ Khí Penn State University Pensylvania USA. Kỹ sư cao cấp về thiết kế Nguyên tử năng tại San Onoffe Nuclear Power Station, California. Kỷ sư & Khoa học gia cao cấp về Không gian và Vệ tinh tại Boeing Satellite System, Los Angles California. Founder Ampact.net - Vietreal.net (America Pacific Techno Network Internet). Trưởng Ban truyền thông (Internet) tổng hội cựu SVSQ/TVBQG Việt Nam. Hội Phó Hội Thân Hữu Bình Thuận Nam Calif..
         
 TẠ VĂN TRUNG sinh năm 1954 tại Thiện Khánh, Hải Long, Bình Thuận, học sinh Phan Bội Châu năm 1966-1973. Tốt nghiệp BS Computer Science tại Purdue University, Principal Engineer, Tạ Văn Trung đã thi thố năng khiếu lảnh đạo tổ chức qua các sinh hoạt văn hóa giáo dục, xã hội cộng đồng sau đây:

-         Sáng Lập Viên và là Chủ Tịch Ban Quản Trị Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại Nam Cali, Hoa Kỳ trong bốn năm đầu thành lập. Phó Chủ Tịch Nội Vụ Ban Quản Trị Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng năm 1993-1996. Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ Hội Thân Hữu Bình Thuận nhiệm kỳ thứ nhất năm 1995-1997. Hội Trưởng Hội Thân Hữu Bình Thuận nhiệm kỳ 4,  năm 2001-2003. Phó Trưởng Ban Nội Vụ Giải Khuyến Học Kỳ 10 tại Nam Cali, Hoa Kỳ.

-         Sinh hoạt trong Ban Hợp Xướng Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng trong suốt mươì năm qua.

           NGUYỄN ĐÌNH DUẬT Tốt nghiệp Khóa 2 Kỹ-Sư Công-Chánh (1963), nguyên Trưởng Ty Công-Chánh Ninh Thuận, hiện là Senior Engineer của California Department of Transportation, khu cầu đường vùng Oakland.

          NGUYỄN ĐÌNH BỐN Cựu học sinh Phan Bội Châu niên khóa 1955-1961, tốt nghiệp Khóa 6 Kỹ-Sư Công-Chánh (1967), Trưởng Ty Công-Chánh Phú-Bổn cho đến ngày Cao Nguyên di tản, hiện còn ở Việt Nam.

          TRẦN ĐÌNH THỌ cựu học sinh TH Phan Bội Châu Phan Thiết, Kỷ sư Công Chánh-Chánh Sự Vụ Sở Tạo Tác Bộ Giáo Dục VNCH trước năm 1975. Cựu tù nhân trong các trại tù cải tạo Cộng Sản. Vượt biên và đến định cư tại nam Cali năm 1983. Hiện là Senior Engineer của California Department of Transportation, khu cầu đường vùng Oakland.

          NGÔ HOÀNG CÁC Cựu học sinh Phan Bội Châu niên khóa 1955-1961, tốt nghiệp Khóa 6 Kỹ-Sư Công-Chánh (1967), Khóa 2/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Khóa 2/68 Sĩ Quan Căn Bản Công Binh, Trưởng Ty Công-Chánh Bình Dương và  Biên Hòa  cho đến ngày 30-4-75.

          Cựu tù nhân trong các trại tù cải tạo Cộng Sản ở Biên Hòa, Nhà Đỏ Bình Dương. Vượt biên cuối năm 1980, giữa năm 1981 định cư tại vùng ngoại-ô thành phố Harrisburg, thủ phủ của tiểu-bang Pennsylvania. Ngoài các công trình cầu đường, các nhà máy, cơ xưởng đã xây dựng nhiều nơi trong các tỉnh Bình Dương, Biên Hòa, còn có Khu Khẩn Hoang Lập Áp Thái Thiện Quận Long Thành Biên Hòa.

          Sau ngày định cư tại Mỹ, đã từng phục vụ cho công-ty Gannett Fleming Inc. tại Headquarter ở Camp Hill PA qua các chức vụ Senior Engineer, Project Engineer, Project Manager của nhiều công trình đủ loại, từ những cơ xưởng sửa chửa xe lửa, xe bus, những hangar máy bay, những tunnel và subway station, các nhà máy lọc nước, các tháp chứa nước (không có cái nào đẹp bằng lầu nước ở công-viên Phan-Thiết tuy to lớn hơn) cho đến các công ốc dinh thự nhiều tầng trong các tiểu-bang Pennsylvania, New Jersey, New York, Maryland, Virginia, Missouri, North và South Carolina, Tennessee, Texas...Cuối cùng là Chief Structural Engineer của Meck-Tech, Inc.

          NGUYỄN THỊ DIỆU HỒNG Cựu học sinh Phan Bội Châu 61, tốt nghiệp Kỹ-Sư Nông Lâm Súc, Hiệu Trưởng trường Trung Học Nông Lâm Súc Phan Rang. Hiện cư ngụ tại Orlando, Florida.

          NGUYỄN HƯNG sinh năm 1952 tại Phan Thiết, học sinh Phan Bội Châu năm 1962-1969. Trong những năm tại đại học Khoa Học 1969-1973 Nguyễn Hưng đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về ngành Hóa học, đã tốt nghiệp thủ khoa, ưu hạng và được tuyển vào Ban Giảng Huấn của Ban Hóa Vô Cơ và Ứng Dụng, Đại Học Khoa Học Sài Gòn năm 1973.

          Năm 1974 được học bổng bậc tiến sĩ của trường đại học Wisconsin Hoa Kỳ về ngành Hóa Vô Cơ Organic Chemistry. Định cư ở Mỹ, với khả năng hiếm có về hóa học, Nguyễn Hưng được làm Senior Research Chemist ngay cho cho hảng Varian từ năm 1988, chuyên nghiên cứu về ngành sắc ký Chromatography. Từ đó Nguyễn Hưng đã có trên 50 công trình nghiên cứu đã được công bố trong các hội nghị quốc tế:

-         The Pittsburgh Conferences on Analytical Chemistry and Applied Spectroscopy (Chicago, New Orleans, Orlando, Atlanta)
-         International Symposium of High Performance Liquid Chromatography and Related Techniques (San Francisco, St. Louis, Birmingham U.K)
-         The Eastern Analytical Symposium (Somerset, N.J)
Riêng trong năm 2002 đã có 9 công trình nghiên cứu được công bố trong cùng một hội nghị (The Pittsburgh Conferences on Analytical Chemistry and Applied Spectroscopy, March 17-22, 2002, New Orleans, LA).
Các công trình nghiên cứu này đã được công bố trên các tạp chí khoa học của Mỹ và thế giới như:
-         Journal of Analytical Toxicology
-         Journal of Chromatography Biomedical Applications
-         The European Food and Drinks Review
-         American Clinical Laboratory
-         American Environmental Laboratory
-         Sample Preparation

          Ngoài ra còn có các vị Lương Y Đinh Xuân Dũng, Phạm Văn Ngà, Bùi Hữu Hồng. Những nhà văn nhà báo Trương Tiến Huân, Đinh Việt,  Uyên Nguyên, Phạm Hoài Hương, Khai Trinh, Lê Hoàng Lương, Mặc Nhân Thế, Cao Hoài Sơn, Ngô Trúc Khánh, Nguyễn Tấn Hợi, Hồ Ngọc Trai, Huỳnh Văn Quý, Thiếu Khanh, Ngỳễn Duy Sâm, Phạm Hòa, Pháo Thủ Chu Pao, Lê Ngọc Lan, Trần Ngọc, Ngò Gai, Bùi Nhật Huy, Nguyễn Thị Dung, Lê Kim Dân..cũng đã góp phần làm đẹp " Đất Và Người Bình Thuận ".

         
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Ba Mươi Tháng Chạp Ất Mùi (2015)
MƯỜNG GIANG